Ba thực trạng của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đại dịch

Tác động của Covid-19 đối với nền kinh tế có thể được xem xét thông qua ba kịch bản.

Tình hình đầu tiên là dịch chỉ tập trung ở Trung Quốc và Hàn Quốc. Ảnh hưởng chính ở Việt Nam vào thời điểm đó là về cung, bao gồm cung cấp nguyên liệu và nguồn nhân lực lành nghề. Tác động chính là điện tử, quần áo, hóa chất và các ngành công nghiệp khác.

Sáng sớm ngày 3/8, hoạt động kinh doanh tại Chợ đầu mối Long Biên (Hà Nội). Ảnh: Thanh Huệ .

Trong trường hợp này, tác động từ phía cầu là ngành du lịch, với du khách Trung Quốc và Hàn Quốc chiếm 50% tổng xuất khẩu du lịch của Việt Nam. Nếu chỉ có Trung Quốc và Hàn Quốc tham gia, ảnh hưởng của Covid-19 sẽ không lớn lắm, vì bắt đầu từ cuối tháng 3/2020, tiêu dùng và du lịch sẽ nhanh chóng phục hồi. Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự báo, trong quá trình chống chọi với dịch bệnh, tổng sản phẩm trong nước hàng năm có thể tăng 6,2% trong quý I. Tuy nhiên, khi Covid-19 trở nên phức tạp hơn, điều này đã không xảy ra.

Tình huống thứ hai xảy ra, đó là dịch lan sang Tây Âu và Bắc Mỹ với tốc độ phát triển nhanh chóng. Số ca ở Việt Nam. Đây được coi là phương án “cơ bản”.

Khác với sơ đồ đầu tiên, sơ đồ thứ hai có tác động lớn đến nhu cầu. Giả sử dịch kéo dài ít nhất hai tháng (kể từ khi Ý tuyên bố ngừng dịch vào ngày 9/3) thì dịch sẽ tiếp tục kéo dài từ tháng 5 đến tháng 6, chậm nhất đến tháng 7 dịch sẽ chấm dứt và tăng trưởng kinh tế sẽ tăng gấp đôi. Khu. Một năm sẽ rất thấp, thậm chí là âm. Đổi lại, do các nước đồng loạt kích thích kinh tế, nên tăng trưởng trong nửa cuối năm sẽ rất mạnh. Theo dự báo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nếu dịch tiếp tục sang quý II, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ đạt 6%. Nhưng đây vẫn là một con số rất khó. –Tình huống thứ ba là đại dịch kéo dài dẫn đến khủng hoảng. Đây là một tình huống “rất tồi tệ”. Trong trường hợp này, bắt đầu từ mắt xích yếu nhất là Italia, thảm họa sẽ là ngòi nổ cho cuộc khủng hoảng tài chính. Nếu Covid-19 kéo dài hơn tháng 7 (không kể Mỹ hay nhiều nước phát triển) thì sẽ rơi vào khủng hoảng như năm 2008, nhiều công ty vỡ nợ gây mất sức lao động. Thực hiện và tác động tiêu cực đến thị trường tín dụng.

Hậu quả của cuộc khủng hoảng này sẽ vô cùng nặng nề và lâu dài. Hiện tại, khả năng điều này xảy ra là không cao, bởi ngoại trừ hệ thống ngân hàng Ý, sức khỏe của hệ thống ngân hàng toàn cầu đã tốt hơn so với thời kỳ khủng hoảng tài chính 2008.

Hiện tại, thực tế là rất khó để dự đoán diễn biến của bệnh đúng lúc. Do đó, kịch bản kinh tế có thể rơi vào giữa hai giả định “cơ bản” và “rất xấu”. Tuy nhiên, chắc chắn rằng GDP năm nay sẽ không đạt 6%. Việt Nam phải chuẩn bị cho sự thành công của tăng trưởng tài khóa và chính sách tiền tệ, vốn có thể chỉ đạt mức tăng trưởng 5%. Nếu chi đầu tư công tiếp tục ì ạch và lãi suất giảm nhẹ, tăng trưởng năm nay có thể còn yếu hơn.

Trong ngắn hạn, sự hoảng loạn trên thị trường tài chính toàn cầu gây ra làn sóng rút tiền của nhà đầu tư nước ngoài, ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số và tỷ giá thị trường chứng khoán Việt Nam. Trong tương lai, mô hình phục hồi của V, W, U hoặc L (rất nhanh hay chậm từ dưới lên) sẽ phụ thuộc vào hai biến, đó là bệnh tật và tình trạng tài chính. Điểm sáng hiện nay là khả năng tài chính và tiền tệ của Việt Nam vẫn còn tương đối tốt, bao gồm cả lượng ngân quỹ quốc gia sẵn có (khoảng 400 nghìn tỷ đồng) và ngân hàng quốc gia. Rút khỏi lưu thông (khoảng 150 nghìn tỷ đô la Mỹ) và dự trữ ngoại hối (hơn 80 tỷ đô la Mỹ). Do đó, nhờ “vùng đệm rủi ro” này, Việt Nam vẫn có thể duy trì ổn định kinh tế vĩ mô ngay cả trong điều kiện “rất xấu”.

Nhà kinh tế Ruan Dehong (Nguyễn Đức Hùng Linh)

Có phiên bản tiếng Việt của bet365 không?_Cách mở bet365 tại Việt Nam_Có phiên bản tiếng Việt của bet365 không?